Drive – The speaking silence

Drive – The speaking silence

Có bài báo kia bảo rằng trong tiểu thuyết gốc Drive của James Sallis, nữ chính Irina là một phụ nữ Latin, đến lúc lên phim lại thành Irene tóc vàng, thế là white-washing nhân vật mất rồi.

Tôi thì nghĩ không có ai khác thích hợp hơn Carey Mulligan để vào vai Irene (hay Irina). Carey có cái vẻ mỏng manh nhưng không yếu đuối; cô có thể cần được che chở, nhưng không bao giờ là damsel in distress. Bọn cuồng danh hiệu có thể lấy lý do Carey chưa bao giờ được nhận vào bất kỳ trường kịch nghệ nào mà cô đăng ký để trề môi bĩu mỏ, nhưng sự duyên dáng trước máy quay và khả năng làm chủ bộ phim của Carey thì vẫn cứ toát ra như hào quang. An Education, Far From the Madding Crowd, và Never Let Me Go là vài ví dụ, dù tôi không thích phim cuối cho lắm. (À chuyện cô cưới ca sỹ chính của Mumford and Sons cũng làm tôi thích cô thêm một ít.)

Lý do quan trọng hơn nữa để tôi tán thành sự hiện diện của Carey Mulligan trong phim này là vì chemistry giữa cô và Ryan Gosling. Nó khác hẳn chemistry của Ryan với Emma Stone trong Crazy Stupid Love, tốt hơn cả với người vợ hiện nay của anh, Eva Mendes, trong The Place Beyond the Pines, và vượt hẳn với Rachel McAdams trong The Notebook. Sự ăn ý trên màn ảnh cũng gần giống như tình yêu hay tình bạn sâu sắc vậy. Người ta có thể hiểu nhau qua vài câu nói lẫn trong sự lặng yên.

Mà khoảng lặng chính là điều tôi khâm phục nhất trong Drive. Những phim hành động và tâm lý thông thường cứ phải viện tới cử chỉ và lời nói để giải thích, còn Drive thì nhấn vào sự chuyển biến của nhân vật bằng những khoảnh khắc im lặng kéo dài nhiều hơn mức cần thiết một ít, chỉ một ít, đủ để người xem thấy tia sáng ánh lên trong mắt thiếu phụ Irene hay sự ấm áp loé lên trên gương mặt gã quái xế bất cần.

Đoạn gã lái xe, Irene và tên giết mướn ở trong thang máy là một trong những trường đoạn gây sửng sốt nhất Hollywood năm 2011. Tuyệt không có lời thoại nào, giữa buồng thang máy vàng vọt và nhỏ như cái bẫy chuột, gã lái xe nhẹ nhàng hôn Irene, điều mà có lẽ gã cũng ước ao từ những ngày đầu họ gặp nhau, nhưng chưa bao giờ dám làm vì nó đi ngược lại nguyên tắc đạo đức của gã về việc dính líu tình cảm với phụ nữ có chồng. Rồi gã đẩy Irene ra sau lưng, và những gì còn lại trên màn ảnh là gương mặt không cảm xúc của gã lái xe và tiếng gót giầy gã nghiến trên xương sọ vỡ nát của tên giết thuê. Trường đoạn này trở thành ví dụ điển hình cho phong cách signature của Nicolas Winding Refn: tàn bạo và vô cùng lãng mạn.

Thế, trong một bộ phim thì không có gì quan trọng bằng một câu chuyện cuốn hút, lối dẫn dắt nhuần nhuyễn và diễn xuất quyến rũ, dù phải đánh đổi bằng cái so-called white-washing.

Advertisements

FANTASTIC BEASTS – Ma thuật trở lại

FANTASTIC BEASTS – Ma thuật trở lại

Đây là phim đầu tiên do cô Rowling tự biên kịch hoàn toàn, nên cũng không tránh được vài lỗi lầm. Khuyết điểm to nhất là bê y cái xì tai mô tả chi li từ truyện vào phim. Ai đọc Harry Potter cũng biết là cô Rowling rất khoái kể mọi thứ thiệt tỉ mỉ, xong thêm vào những chi tiết dẫn dụ nhỏ tới mức bạn chỉ nhận ra khi nút thắt được mở. Dĩ nhiên khi đọc truyện thì tụi mình khoái tỉ tì ti, nghiền đi nghiền lại mãi không chán. Nhưng phim ảnh có một ngôn ngữ riêng, và khán giá trong rạp cũng không thể tua lại phim mà xem xem cổ nói cái gì. Lần này thì trí tưởng tưởng xuất chúng của cô có hơi làm hại bộ phim. Quá nhiều nhân vật và chi tiết thừa thãi bị nồi nhét vào thời lượng (hơi bị dài) của phim, khiến nhịp phim loãng đi khá nhiều. (Cái mẹ tóc vàng đi theo con mụ wizardphobia đó là ai vợi??)

Bù lại, Fantastic Beasts cực kì giàu năng lượng. Kể cả với mạch phim hơi nát nói trên thì phim vẫn đủ sức rù quến khán giả trong phần lớn thời lượng, chưa kể là cảnh nào cũng đẹp như… ma thuật. (Tui yêu bạn Frank!!! Đẹp giai vãi thú huhu) Về màu sắc chung thì có vẻ Hufflepuff và Ravenclaw rule, cũng hợp với Newt và Tina.

Nói về anh Newt chíu. Nhân vật này tính cách nhút nhát, kiểu hơi “tự kỉ” hay sao ấy, ít giao tiếp mắt. Chắc vì vậy mà anh Eddie hơi hơi lép vế so với chị Katherine (Tina) quyết đoán và anh Colin Farrell too-cool-for-Bộ.

Nói công bằng trên quan điểm phim thì FB chỉ ở mức trung bình thôi, nhưng chúng ta có xem không? Có. Thích không? Thích. Gào rú trong rạp không? Gào! Vì chúng ta là Potterhead và sẽ xem sẽ đọc bất cứ thứ gì cô Rowling viết!

SNOWDEN – Phụng sự Tổ quốc là phụng sự ai?

SNOWDEN – Phụng sự Tổ quốc là phụng sự ai?

Edward Snowden là anh hùng hay tội đồ, điều đó còn tùy thuộc vào chuyện bạn theo phe nào. Và dĩ nhiên là phe bạn lúc nào cũng đúng.

Theo nhà làm phim, Snowden là phim hư cấu, lấy cảm hứng từ các sự kiện trong thời gian Edward Snowden ở trong quân ngũ cho tới ngày anh ta tị nạn chính trị tại Nga. Bởi vậy bộ phim này giống bao nhiêu phần trăm so với sự thật, chúng ta chỉ có thể đoán, nhưng bộ phim đã khắc họa rất rõ tư tưởng và nguyên tắc đạo đức riêng của người thổi còi này.

Với thời lượng 2 giờ 18 phút, Snowden khá dài. Một số người sẽ thấy bộ phim hơi dài dòng và đi quá nhiều vào quãng thời gian trước khi Edward Snowden công bố việc chính phủ Mỹ nghe lén người dân. Đúng là nó dông dài thật, nhưng đây là việc cần thiết để khai thác Edward Snowden dưới góc độ một con người, chứ không phải một hacker hay whistle blower.

Oliver Stone chuyên trị phim có nội dung chính trị, và cũng không ngại gì chuyện tát vào mặt chính phủ Mỹ. Snowden lần này cũng vậy, có thể thấy rõ là ông già 70 này ủng hộ quan điểm của Snowden. Không chừng vì vậy mà Snowden bị bọn phê bình Mỹ bĩu môi bĩu mỏ.

Điểm chính làm nên độ sâu của Snowden là diễn xuất của Joseph Gordon-Levitt. Thật ra thì lý do đầu tiên khiến mình muốn đi xem phim này là vì ảnh đóng chính. Anh này là celeb crush của mình, ảnh đóng cái gì mình cũng xem. Từ từ sẽ viết một bài riêng về ảnh, nhưng nói về phim đã. Joseph không có ngoại hình giống Edward Snowden, ngay cả cái giọng trầm trầm cũng là do ảnh giả giọng, nhưng quan trọng hơn, Joseph đã bắt được thần thái của Snowden, điều mà mẹ đẻ của Snowden đã trực tiếp công nhận với JGL.

Joseph có cái vẻ trầm tư rất deep và đã rất thành công trong việc khắc họa những trăn trở của Edward Snowden. Tâm lý nhân vật thay đổi dần theo mạch phim, nhưng nguyên tắc “bảo vệ người dân nghĩa là phục vụ đất nước” của Snowden thì không hề thay đổi, nó chỉ càng lúc càng mạnh mẽ hơn và gây nguy hiểm hơn cho anh ta mà thôi.

Phim nhắc nhiều đến việc “phụng sự Tổ quốc”, nhưng dần dần, nó tách bạch giữa việc phụng sự nhân dân và phụng sự chính phủ. Ai cũng có thể nói là mình đang phụng sự đất nước, nhưng đất nước là gì nếu không phải là người dân của nó?

– – –

Nói về chuyện nên công bố thông tin như thế nào. WikiLeaks, trong một đợt công bố gần đây của mình, đã làm lộ hàng loạt hồ sơ y tế của người dân, trong đó có rất nhiều bệnh án, hồ sơ kiểm tra trinh tiết của cô dâu, và danh tính của hai nạn nhân vị thành niên bị hãm hiếp (Associated Press).

WikiLeaks có một cơ chế nhằm “lọc” những thông tin nhạy cảm như thế này: các nhà báo sẽ truy cập thông tin trước và red-flag các dữ liệu mà họ cho rằng không nên công khai, và WikiLeaks sẽ xem xét lại để giữ kín những dữ liệu này. Tuy nhiên, Julian Assange, người sáng lập WikiLeaks, cho rằng việc này quá tốn thời gian và tiền bạc, nên đã không thực hiện cơ chế kiểm tra. Theo Assange, đây là “tổn thất ngoài dự kiến”, và là “cái giá phải trả cho sự minh bạch”.

Snowden đã có phát biểu chỉ trích WikiLeaks khá gay gắt vì chuyện này. WikiLeaks cũng phản pháo lại không kém phần đanh đá. Cũng nên nhớ năm 2013, WikiLeaks đã từng kề vai sát cánh với Snowden, giúp anh này rời khỏi Hong Kong và xin tị nạn tại Ecuador.

 

Ben-Hur (2016) – Cỗ xe ngựa trật bánh

Ben-Hur (2016) – Cỗ xe ngựa trật bánh

Ben-Hur (2016) là ví dụ điển hình cho việc vì sao không nên remake các bộ phim kinh điển.

ben_hur_c2a9_mgm

Năm 1960, bộ phim sử thi Ben-Hur: The Tale of Christ do Metro-Goldwyn-Mayer (MGM) sản xuất đã làm nên lịch sử khi trở thành tác phẩm đầu tiên đoạt 11 giải Oscar, bao gồm phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, nam diễn viên chính và phụ xuất sắc nhất, cùng với 7 giải khác ở các hạng mục dựng phim, quay phim và kỹ thuật.

Vào thời điểm đó, Ben-Hur là bộ phim được đầu tư kinh phí khổng lồ, hơn 15 triệu đôla Mỹ, tương đương 125 triệu bây giờ. Bộ phim có bối cảnh hoành tráng và chi tiết, quy tụ 10.000 diễn viên quần chúng cùng hàng trăm ngàn con ngựa và lạc đà. Cảnh đua xe ngựa kéo dài 9 phút đã trở thành một trong những trường đoạn đáng nhớ nhất lịch sử điện ảnh, và ảnh hưởng rất lớn đến các bộ phim cùng thể loại sau này. Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ đánh giá Ben-Hur (1959) là bộ phim có “giá trị văn hóa, lịch sử và thẩm mỹ quan trọng”.

MGM là hãng phim đã sản xuất 3 phiên bản Ben-Hur, ngoài bản 1959 nói trên còn bản 1925 cũng rất thành công, và giờ là bản 2016. Với lịch sử như vậy, khán giả có quyền hy vọng bộ phim remake mới cũng có chất lượng tương tự.

ben_hur_2016_after_credits_hq

Ben-Hur là câu chuyện về 2 anh em nuôi (trong phim cũ là 2 người bạn thân) Judah – một hoàng tử Do Thái, và Messala – một thanh niên La Mã mồ côi. Messala đầu quân vào quân đội La Mã và thăng tiến nhanh chóng. Khi Roma hành quân qua Jerusalem, viên tướng dẫn đầu đoàn quân đã bị thương khi đi qua trước nhà Judah. Dù biết đây không phải là lỗi của Judah, Messala vẫn kết tội người anh nuôi. Kết cục là Judah bị đày làm nô lệ, còn gia đình anh không rõ số phận ra sao. Sau nhiều năm làm nô lệ chèo thuyền trên tàu chiến Roma, Judah quay trở lại, quyết tâm trả thù Messala.

Ben-Hur (2016) vẫn là bộ phim về sự phản bội, có điều lần này người bị phản bội là khán giả!

Ben-Hur tân thời chỉ có vỏ bọc hào nhoáng của kỹ xảo điện ảnh, còn nội dung bên trong, cái hồn của cả bộ phim, thì rỗng tuếch. Nếu trông đợi một tác phẩm sử thi có giá trị như phiên bản 1959, bạn chắc chắn sẽ thất vọng, còn nếu bạn chỉ tìm một phim giải trí xem giết thời gian, thì Ben-Hur là lựa chọn không đến nỗi tồi.

BEN-HUR

Như vừa nói ở trên, điểm nổi bật nhất của bộ phim này là kỹ xảo. Cảnh thuỷ chiến dữ dội trên biển, khi những người nô lệ gồng người đẩy tay chèo trong tiếng gươm đao chát chúa, sóng biển và máu người không ngừng tuôn; hay cảnh cuộc đua xe ngựa căng thẳng trên đấu trường tung bụi vàng mù mịt, từng chiếc xe lần lượt văng lên, vỡ tung trên đường chạy… đều khiến khán giả thót tim, căng mắt theo dõi. Phần hình ảnh chính là chiếc đũa thần trị giá 100 triệu đô đã biến Ben-Hur từ túp lều rách thành đấu trường.

Còn về phần nội dung, bộ phim mới đã làm một việc vô cùng mạo hiểm là sửa lại cốt truyện ban đầu. Trong bản năm 1959, Mesala hoàn toàn là một kẻ phản bội, và hành trình của Judah tập trung vào việc hồi hương và trả thù. Chính vì cấu trúc chính diện – phản diện rạch ròi như vậy nên bộ phim khó lạc lối, hơn nữa còn có thời gian đầu tư vào những tình huống đắt giá.

Trong phim mới, biên kịch đã cố gắng hướng sự phản bội thành hiểu lầm, là ép bộ phim đi vào cái kết có hậu. Cả phim đầy những tình huống gượng ép và ngu ngốc đến bực mình, nhiều lúc người xem chỉ muốn thốt lên, “Trời ơi ngu cho chết!”. Và xin đừng nói về giá trị tôn giáo trong bộ phim này, bởi nó ở mức đâu đó dưới 0.

ben_hur_7

Có lẽ điều tiến bộ nhất của phiên bản mới này là tuyển chọn dàn diễn viên đóng các nhân vật Do Thái có ngoại hình rất Do Thái, ví dụ như tài tử Jack Huston trong vai Judah, và cô đào người Iran Nazanin Boniadi trong vai người vợ Esther. Dàn diễn viên của phim phải nói là rất đẹp, rất hợp với tạo hình, nhưng chỉ đến thế mà thôi, chứ diễn xuất thì mờ nhạt, bảo là tròn vai thôi cũng ngượng miệng. Nói cho ngay, tâm lý nhân vật không có lấy một sự tiến triển nào thì bảo diễn viên diễn cho hay cũng khó.

morgan

Ngôi sao duy nhất của bộ phim, theo mọi nghĩa, là cây đa cây đề Morgan Freeman. Ông lão gần 80 này chỉ cần xuất hiện trên màn ảnh là đã thổi hồn cho cả bộ phim rồi. Chính vì hào quang quá lớn này mà ngay từ giây phút đầu tiên khi nhân vật thương gia Ilderim của ông lộ diện, Judah của Jack Huston coi như chìm nghỉm.

Chỉ đạo phim này là đạo diễn người Nga Timur Bekmambetov, người không có phim nào đáng chú ý ngoại trừ Wanted (do Angelina Jolie đóng chính). MGM đã chơi một nước cờ mạo hiểm khi thay đổi cốt truyện, và đi một nước cũng mạo hiểm không kém với việc thuê Bekmambetov.

Kết quả ván cờ này thế nào thì khán giả google cũng thấy. IMDb 4.7, Rotten Tomatoes 30%, Metacritic 36/100. CGI hào nhoáng cũng không thể cứu bộ phim này. Nó vấp váp quá nhiều. Nếu có một cuộc đua của các phiên bản Ben-Hur, thì bộ phim này sẽ bỏ mạng ngay từ lúc chưa thắng ngựa.

Danish Girl – It was only a dress

Danish Girl – It was only a dress

‘The Danish Girl’, just like Lili’s dress, only fondles the skin, without being able to touch the heart.

One can’t BE a woman just by DRESSING like a woman. Despite Eddie Redmayne’s exceptional effort to imitate every female movement, he couldn’t quite expose Lili’s deepest desire to be a woman. The moment was there, when Einar stood in front of the mirror, tucking his penis between his legs, on the verge of tears but couldn’t cry, but that was all. Eddie’s acting was excellent, though much dramatic to the point of deceit.

On the other hand, it was Gerda who truly is the Danish Girl. It didn’t matter she was born a woman, Gerda proved to BE a woman through the entire film. Her talent, her strong heart, her ability to believe, to love unconditionally, and to see people as they are. Alicia Vikander gave such soulful performance she made you believe if it wasn’t love that could conquer all, then there is nothing else.

When the day is closing

George Ezra is best listening to when the day is closing. His voice, it’s like all the sound of the night completes in just that voice. “A soulful, wizened tone that somehow would feel more at home coming from an Alabama shrimp boat captain than a 21-year-old Bristolian.” A voice best hearing with your legs dangling out a window, smoke in hand, mind floating.